Tác giả: Phạm Việt Long

Khi tới thăm Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Bình, anh Trần Hoàn được tặng một tập thơ của nhà thơ Xuân Hoàng. Là chỗ thân tình với nhạc sĩ Trần Hoàn, nên Nhà thơ Xuân Hoàng ngỏ ý nhờ anh chọn, phổ nhạc một bài thơ trong tập này. Trưa hôm đó, anh Trần Hoàn dành giờ nghỉ để đọc tập thơ. Buổi chiều, tới nhà anh Xuân Hoàng, anh Trần Hoàn nheo mắt cười hóm hình: “Tập thơ này của ông giống Nghị quyết Đảng ủy quá, mình không phổ nhạc được”. Nhà thơ Xuân Hoàng cười hồn hậu: “À, đợt này đang trong phong trào CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI mà. Không phổ nhạc thì cầm đọc cho vui vậy”.  Căn phòng của hai vợ chồng nhà thơ Xuân Hoàng nho nhỏ, chúng tôi chia nhau người ngồi ghế, kẻ ngồi giường. Chợt, anh Trần Hoàn cầm tờ báo Quảng Bình nằm ở góc giường lên đọc lướt, rồi đọc chăm chú tới mức quên nói chuyện với mọi người. Anh Xuân Hoàng kéo anh Trần Hoàn ra khỏi cơn say đọc: “Này, uống nước đi chứ!”. Anh Trần Hoàn giật mình, dơ tờ báo lên: “Thơ để phổ nhạc đây rồi. Bài này hay quá”. Thì ra, trong tờ báo bị xé mất một nửa ấy, có bài thơ “Chỉ còn anh và em” của chị Bình, vợ anh Xuân Hoàng, với bút danh Thu Tịnh.

Tối hôm ấy, tại nhà khách của huyện Tuyên Hóa, tôi nghe văng vẳng tiếng Ghi ta trong phòng anh Trần Hoàn, mãi tới khuya vẫn bập bà bập bùng. Tôi biết, cũng tại Tuyên Hóa này, Nhạc sĩ Trần Hoàn đã sáng tác ca khúc “Về Đồng Lê”, đậm đà chất dân ca Trung bộ, nghe mượt mà, trữ tình đến nao lòng. Sớm tinh sương, anh Trần Hoàn đã gõ cửa phòng tôi, khua: “Dậy, dậy các cậu. Nghe bài hát mới của mình phổ thơ bà Bình, vợ ông Xuân Hoàng đây”. Trong không khí tĩnh lặng của buổi sớm miền sơn cước, tiếng Ghi ta sâu lắng và giọng hát ấm áp của anh Trần Hoàn nhè nhẹ trải ra. Ôi, một ca khúc trữ tình tuyệt vời. “Chỉ còn anh và em”, mặc dù được sáng tác bởi một phụ nữ miền Trung, trong môi trường miền Trung, nhưng khi thành ca khúc, lại không mang âm hưởng dân ca Trung bộ, mà mang tính chất một bản trữ tình bán cổ điển, với giai điệu thắm thiết, sang trọng, nói lên tình cảm chân thành, giản dị của đôi vợ chồng tuy đã qua thì xuân sắc vẫn tin tưởng vào mùa xuân của cuộc đời. Bài thơ xinh xắn, là loại thơ 5 chữ rất phù hợp với ca khúc. Nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc trọn vẹn bài thơ, với cung Rê thứ buồn bảng lảng. Mở đầu, là cảnh sống bình dị của hai vợ chồng:

 

Chỉ còn anh và em

Trong ngôi nhà bé nhỏ

Gió lùa qua song cửa

Cho vắng thêm căn phòng

 

Chỉ còn anh và em

Chăm bón vườn hoa nhỏ

Ước thầm trong giấc ngủ

Hoa kịp nở vào xuân

Lời thơ viết là có hai người. Nhưng cảnh thơ cho thấy chỉ có một người ở nhà, còn một người đang đi xa! Người ở nhà chăm chút vườn hoa, cũng là biểu tượng của những tình cảm tốt đẹp, để chờ người đi xa trở về. Đợi chờ và dâng hiến, đó là hai chủ đề mà âm nhạc cần làm bật lên được. Nhạc sĩ Trần Hoàn đã viết phần này dàn trải, mênh mang, tới đoạn cuối lắng đọng ở âm chủ, chuẩn bị cho sự chuyển sắc thái. Đúng như vậy, lời thơ và âm nhạc ở phần hai tươi sáng lên, dồn dập, quấn quýt bởi các nốt móc đơn, móc kép nối tiếp nhau, xen vào là những nốt luyến, rồi cao dần lên, thể hiện tình cảm thắm thiết, niềm tin mãnh liệt vào mùa xuân – biểu tượng của hạnh phúc:

Hoa nở quên sầu muộn

Cành đào đem vào trong

Để phòng văn đỡ lạnh

Và hồng thêm má em

 

Chỉ còn anh và em

Một mình chia hai nửa

Nửa mùa đông thắp lửa

Nửa mùa xuân dần qua

 

Chỉ còn anh và em

Dù đường xa cách trở

Tuổi già ôi vắng vẻ

Vẫn nồng cháy tình xuân!

Âm nhạc phát triển đến cao trào ở đoạn thơ giàu hình tượng:

Chỉ còn anh và em

Một mình chia hai nửa

Nửa mùa đông thắp lửa

Nửa mùa xuân dần qua

Đoạn này vừa phản ánh một hiện thực là cùng với năm tháng, sự trẻ trung, tươi xanh cũng sẽ phải lùi vào quá khứ, đồng thời nói lên niềm tin và nghị lực của con người - biết tin yêu, dâng hiến, luôn luôn “thắp lửa” cho cuộc đời! Bởi vậy, cái giá lạnh, u hoài của mùa đông sẽ bị xua tan, cái nồng ấm, vui tươi của mùa xuân sẽ dâng tràn cuộc sống…

Sau này, khi đi công tác Thái Lan về, Bộ trưởng Trần Hoàn bảo với tôi rằng bên Thái Lan mời đoàn nghệ thuật của ta sang, nhưng ông Bộ trưởng Văn hóa bên đó dặn đi dặn lại rằng tiêu chuẩn đầu tiên phải là những diễn viên trẻ đẹp. Ít lâu sau, đoàn nghệ thuật của Việt Nam sang biểu diễn tại Thái Lan, có Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung – không phải là một diễn viên trẻ đẹp, mà là người có giọng hát hay nhất nước ta hồi đó. Rồi, bài thơ của chị Bình – tức Thu Tịnh - do Trần Hoàn phổ nhạc “Chỉ còn anh và em” được Lê Dung hát vang giữa thủ đô Băng Cốc, làm rung động biết bao trái tim của khán giả Thái Lan.

Là một cán bộ lãnh đạo gắn bó với phong trào của quần chúng, anh Trần Hoàn rất chịu khó đi cơ sở. Đi với anh, tới đâu tôi cũng thấy anh có những người quen thân, trong đó có những anh chị cán bộ, nhân viên yêu văn nghệ. Để tỏ thịnh tình với anh, nhiều cơ sở tổ chức sinh hoạt văn nghệ vào tối anh đến thăm. Khi ấy, anh Trần Hoàn ôm Ghi ta cùng các trợ lý Tô Long, Việt Hiển hát những bài về quê hương, đất nước hoặc những bài về địa phương do anh Trần Hoàn sáng tác. Chao ơi, cả một kho “Tỉnh ca, huyện ca, xã ca” do anh Trần Hoàn viết tặng các địa phương trên đất Quảng Trị hoặc Quảng Bình và nhiều tỉnh khác mà anh từng gắn bó. Hàng loạt bài hát kiểu “địa phương ca” ấy vang lên, hồn nhiên, đằm thắm tình người. Có buổi tối trăng sáng, đoàn lên thuyền qua sông Nhật Lệ sang Bảo Ninh, quê của Mẹ Suốt, mấy anh em ngồi bệt trên bãi cát cùng bà con dân làng hát vui. Anh Trần Hoàn ôm Ghi ta, vừa đàn vừa hát hoặc đệm cho mọi người hát, tới thâu đêm vẫn chưa muốn dừng. Trong nhiều buổi sinh hoạt văn nghệ, các cô cậu văn nghệ quần chúng hát ca khúc của anh, nhạc sĩ Trần Hoàn chăm chú lắng nghe. Hết buổi văn nghệ, khi anh chị em vây quanh, anh Trần Hoàn lại nheo mắt cười hóm hỉnh: “Các cô cậu làm cho ca khúc của mình có nhiều anh em quá!” Biết là nhạc sĩ nhắc khéo mình hát bài của anh mà sai nhạc chỗ này chỗ kia, các cô cậu không tự ái, mà cười vang, thân thiết.

Trong một số chuyến đi công tác địa phương, anh Trần Hoàn còn đưa một số ca sĩ cùng đi để phục vụ quần chúng. Là Bộ trưởng, nhưng anh không làm oai, xa cách, ngược lại rất xuề xòa, gần gũi. Có chuyến đi, gần tới nơi thì trời về trưa, không muốn làm phiền cơ sở phải cơm bưng nước rót, anh Trần Hoàn rủ bọn tôi ghé vào quán dùng bữa. Anh chỉ cần có mấy củ khoai lang luộc, quả chuối tiêu và cốc nước chè xanh là xong bữa. Anh ít thích cỗ bàn, vì anh bảo: “Mình cứ thấy bầy đầy thức ăn ra là đã ngán, không ăn được”. Hồi đó, Bộ trưởng cũng nghèo, chứ không giầu nứt đố đổ vách như một số vị bây giờ, đi công tác được địa phương biếu chút quà quê, là quý lắm, anh Trần Hoàn bảo chia đều cho nhau. Riêng phần mấy con mực khô, anh không nhận, anh nói: “Vợ chồng mình răng yếu, không nhai được!”. (Sau này, vào năm 2003, khi đang trong chuyến công tác miền Nam, anh Trần Hoàn bị nhồi máu cơ tim, phải cấp cứu, bác sĩ chỉ định đặt Stent ở động mạch vành. Chi phí cho cuộc phẫu thuật là 100 triệu đồng, cả nhà anh chạy đôn chạy đáo mãi không đủ, sau đó, do chỉ phải đặt 2 Stent chứ không phải là 3 cái như dự báo, và được Nhà nước hỗ trợ một phần, mới đủ tiền chữa bệnh). Biết tính anh như vậy, nên anh chị em thường đùa vui cùng anh, có những ca sĩ còn dám hát “lời hai” (tức là lời bịa theo ca khúc) trong các buổi sinh hoạt văn nghệ giữa Bộ và địa phương mà anh Trần Hoàn chủ trì. Trong chuyến công tác Kim Bôi (Hòa Bình) của anh Trần Hoàn, có các ca sĩ Hồng Năm, Thanh Vinh, Mai Tuyết cùng đi, trong đó NSƯT. Thanh Vinh là một cây hài hước, hát “lời hai” khiến cả hội trường dào lên những đợt cười vui và vỗ tay rôm rả. Chẳng hạn anh hát “lời hai” của bài “Đoàn Vệ quốc quân”: “Người ta bảo tiến thì mình phải lùi/Người ta bảo lúi thì mình phải tiền”… hoặc “Một chiều anh Sáu Dân tê lê phôn cho anh Trần Hoàn/Anh bảo rằng dù kinh tế nhiều thành phần/Thì văn hóa chỉ một thành phần đừng nhiều cho phiền anh ơi!...”, đến anh Trần Hoàn, tác giả của ca khúc “Lời người ra đi” bị đặt “lời hai” ấy cũng bật cười ha hả.

Ham hoạt động, anh Trần Hoàn làm việc phục vụ văn hóa nghệ thuật cho tới ngày từ biệt cõi trần. Từ đó, người vợ thân thương của anh, chị Thanh Hồng, làm nốt những phần việc của anh. Chị cặm cụi lục lọi các tài liệu của anh để tìm lại những bản nhạc mà anh đã viết. Chị bảo, viết xong, có khi anh Hoàn không nhớ là mình đã để đâu. Nhiều khi, lục trong tập tài liệu này, trong cuốn sổ kia, chị lại bắt gặp một bài hát anh viết, có bài đã hoàn chỉnh, có bài đang dở dang. Chị thường đưa cho anh Việt Hiển chép lại sạch sẽ và chuyển cho ca sĩ hát. Còn bây giờ, chị đã tập hơn được tới gần 8 trăm bài hát của anh, toàn là nguyên gốc chép tay, rồi phân loại, xếp vào từng tập, ghi danh mục cẩn thận. Tôi đọc danh mục mà sửng sốt: Tình ca: 174 bài. Địa phương ca: 230, Ngành ca: 82, Bác, Đảng ca: 23, Xuân ca: 25, Thiếu nhi ca: 30 bài… Chị Hồng đã chọn lọc, cho xuất bản một tập ca khúc của anh (khác với các tập đã xuất bản) với tiêu đề “Lời ru cho anh” gồm 125 ca khúc. Trong số ca khúc được sưu tầm, phân loại này, tôi để ý thấy, chủ đề về Trường Sa đã sớm được anh Trần Hoàn quan tâm, và anh đã viết một ca khúc phổ thơ của một chiến sĩ Trường Sa là Trần Dực, với tiêu đề “Gửi trường Sa”. Các bản nhạc cùng nhiều tài liệu quý về nhạc sĩ Trần Hoàn đã được chị Thanh Hồng trao gửi Cục Văn thư -Lưu trữ Nhà nước.

Ngọn lửa yêu thương trong tâm hồn người phụ nữ đã cao tuổi Thanh Hồng tạo thành động lực cho chị làm việc đầy hiệu quả. Chị đã viết lại những kỷ niệm ăm ắp vui, buồn, sướng, khổ trong quá trình gắn bó vợ chồng với anh Trần Hoàn, xuất bản thành cuốn sách có tiêu đề “Tình yêu và Âm nhạc”. Cuốn sách này chân thực, giản dị mà trào dâng tình người, sáng ngời lý tưởng, đẹp đẽ nhân cách. Nhìn chị nâng niu từng bản nhạc mà anh Trần Hoàn đã viết và chị đã cất giữ, tôi hiểu rằng, anh Trần Hoàn đang sống mãnh liệt trong người vợ mảnh mai của mình. Cũng như vậy, anh sống mãi với cuộc đời, bởi những ca khúc của anh đang ngày ngày ngân vang trong cuộc sống, chưa biết đến bao giờ mới hết chỗ đứng trong lòng người…

Đôi nét về nhạc sĩ Trần Hoàn (theo Tạp chí Tuyên giáo)
Nhạc sĩ Trần Hoàn tên thật là Nguyễn Tăng Hích, sinh năm 1928, quê quán Hải Lăng, Quảng Trị. Cái tên Trần Hoàn là bút danh gắn với cảm xúc mê bài hát “Thiên Thai’ của nhạc sĩ Văn Cao trong câu “Đào nguyên xưa Lưu Nguyễn quên trần hoàn” của nhạc sĩ. Tham gia hoạt động âm nhạc từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông đã thành lập đoàn nghệ thuật đi biểu diễn từ Bình Trị Thiên đến Thanh Nghệ Tĩnh trong những ngày chiến tranh chống Pháp.
Sau ngày hòa bình lập lại (1954), ông đã trải qua nhiều cương vị công tác, như: Giám đốc Sở Văn hóa Hải Phòng, Trưởng ban Tuyên huấn Bình Trị Thiên - Huế, Trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (1987 - 1996). Đại hội VII của Đảng, ông được tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng; là đại biểu Quốc hội khóa VIII. Từ 7/1996 -11/2003, nhạc sĩ Trần Hoàn giữ chức Phó Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương.
Nhạc sĩ Trần Hoàn là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam (năm 1957). Ông tự học nhạc và bắt đầu sáng tác từ năm 16 tuổi. Suốt 75 năm mùa xuân cuộc đời, trong đó gần 60 năm sáng tác, nhạc sĩ Trần Hoàn đã để lại gần 1.000 ca khúc trong đó nhiều tác phẩm mãi mãi đi cùng năm tháng, tạo nên sức sống lâu bền trong lòng người yêu nhạc, từ những ca khúc thời kỳ đầu mang tính trữ tình như  “Sơn nữ ca’, “Lời người ra đi’... cho tới những bài hát “Lời ru trên nương”, “Tình ca mùa xuân’, “Nắng tháng Ba”, “Một mùa xuân nho nhỏ”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm”, “Một mùa xuân nho nhỏ”, “Chào mùa xuân”, “Đêm Hồ Gươm”, “Mưa rơi”… Đặc biệt, ông còn viết nhiều ca khúc về Bác Hồ xúc động lòng người, như: “Cảm xúc từ Làng Sen”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu ví dặm”, “Thăm bến Nhà Rồng”, “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”…
Nhạc sĩ Trần Hoàn là một trong những hiện tượng đặc biệt mang trách nhiệm “kép” - nghệ sĩ – chiến sĩ. Ông vừa là nhà lãnh đạo sâu sắc, nhân văn, vừa là người sáng tác sung sức. Những sáng tác của ông ở từng giai đoạn đều có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc người nghệ sĩ và kiến thức của nhà lãnh đạo; sự gần gũi quần chúng nhân dân và nguồn cảm hứng nhân văn để xây dựng tác phẩm với những giai điệu khó quên.
Với những đóng góp đó, nhạc sĩ Trần Hoàn đã được vinh dự nhận nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. Đặc biệt, năm 2000, nhạc sĩ đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật…