Toàn cảnh Phiên họp thứ 43 của UBTVQH. Ảnh: VGP/Lê Sơn

Xây dựng lực lượng nòng cốt bảo vệ biên giới quốc gia

Tờ trình của Chính phủ nêu rõ: Hiện nay, hoạt động trên biên giới, khu vực biên giới (KVBG), cửa khẩu có nhiều chủ thể thuộc nhiều bộ, ngành Trung ương như chính quyền địa phương, Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Cảng vụ, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm dịch, Kiểm ngư, Quản lý thị trường… tham gia vào xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, KVBG nhưng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này đang được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành nên dẫn đến những khó khăn, vướng mắc bất cập trong thi hành trên thực tế.

Luật Biên giới quốc gia năm 2003 quy định có tính nguyên tắc về xây dựng, quản lý, bảo vệ BGQG, KVBG như mới khái quát trách nhiệm của Nhà nước, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về xây dựng chiến lược và lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; chính sách chung về xây dựng công trình biên giới, mốc quốc giới; bố trí dân cư ở KVBG; quy định chung về xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân, “Ngày biên phòng toàn dân” và xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ BGQG. Một số nội dung quy định về nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân chưa được luật hóa, mới quy định có tính nguyên tắc về chủ trương, nguyên tắc, nội dung.

Bên cạnh đó, Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) mới điều chỉnh các vấn đề liên quan đến BĐBP (vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hệ thống tổ chức của BĐBP và chế độ, chính sách đối với BĐBP với tư cách là lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG), chưa đề cập đến các chủ thể khác như chính quyền địa phương, các bộ, cơ quan ngang bộ, lực lượng vũ trang nhân dân, Cảng vụ, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm dịch, Kiểm ngư, Quản lý thị trường… với tư cách là lực lượng nòng cốt quản lý, bảo vệ BGQG, KVBG.

Thẩm tra của Uỷ ban Quốc phòng An ninh cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật Biên phòng Việt Nam như đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ, nhằm thể chế hóa đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về biên giới quốc gia, trong đó có Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, quy định của Hiến pháp năm 2013 về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính thống nhất với các luật hiện hành; khắc phục những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản pháp luật khác có liên quan, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới và nâng cao hiệu quả hoạt động của BĐBP, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phân định rõ nhiệm vụ, chức năng của BĐBP với các lực lượng khác

Phát biểu kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ cho biết: Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản tán thành với nội dung nêu trong Tờ trình và Dự thảo của Chính phủ; đồng tình với các ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Quốc phòng-An ninh và một số ý kiến phát biểu.

Về tên gọi và phạm vi điều chỉnh, đây là vấn đề lớn quyết định tới kết cấu và toàn bộ nội dung của dự thảo cần phải được nghiên cứu, đánh giá thật kỹ, nội dung này được nhiều ý kiến quan tâm và cũng có ý kiến khác nhau. Việc xây dựng dự án luật với tên gọi “Luật Biên phòng Việt Nam” và mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Pháp lệnh Bộ đội biên phòng là phù hợp với tên gọi được nêu trong Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và tên trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội quyết định.

Về tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, vấn đề liên quan đến tên gọi và phạm vi điều chỉnh, báo cáo thẩm tra sơ bộ và nhiều ý kiến thảo luận cũng đề nghị làm rõ. Sơ bộ có thể thấy rằng, ngoài Luật Biên giới quốc gia, hiện nay có tới 10 đạo luật có các quy định liên quan tới hoạt động biên phòng, do đó các quy định của dự án luật cần phải được rà soát thật kỹ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các quy định có liên quan, xác định rõ mối quan hệ giữa luật này với các luật khác, nhất là với Luật Biên giới quốc gia.

Về giải thích từ ngữ, dự thảo luật giải thích hai cụm từ “Biên phòng” và “thực thi nhiệm vụ biên phòng”, trong đó có khái nhiệm “Biên phòng” là vấn đề cơ bản bởi sẽ quyết định đến kết cấu, nội dung, bố cục của luật. Từ đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại các nội dung giải thích từ ngữ để đảm bảo tính hợp lý.

Về nhiệm vụ biên phòng, lực lượng, biện pháp thực thi các nhiệm vụ biên phòng ở chương II, đây là chương rất quan trọng thể hiện cho việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật. Về bản chất, chương này phải làm rõ quy định rành mạch các nội dung về nhiệm vụ biên phòng, lực lượng, biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng để từ đó phân tích được phạm vi giữa Luật Biên phòng Việt Nam với Luật Biên giới quốc gia và các luật khác.

Về hợp tác quốc tế, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ đề nghị rà soát lại các nội dung của chương này đảm bảo tính thống nhất với pháp luật và ký kết điều ước quốc tế phù hợp với các luật khác; có ý kiến đưa vào 1 chương, có ý kiến đưa vào một mục của chương II. Vấn đề này Ban soạn thảo nghiên cứu, phối hợp cùng cơ quan thẩm tra.

Về lực lượng bộ độ biên phòng tại chương IV, chương này kế thừa Pháp lệnh Bộ đội biên phòng đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới cho phù hợp với thực tiễn, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ, nhất là các quy định về chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội biên phòng, phân định rõ nhiệm vụ, chức năng của Bộ đội biên phòng với các lực lượng khác, nhất là với Công an, Hải quan, Cảnh sát biển… 

Ngoài các vấn đề trên, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ đề nghị các cơ quan hữu quan tiếp tục rà soát kỹ về tính khả thi, hợp lý đối với các quy định bảo đảm chế độ chính sách của Bộ đội biên phòng, trách nhiệm các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực thi nhiệm vụ biên phòng, cần rà soát thật kỹ về bố cục, kỹ thuật văn bản để hoàn chỉnh thêm. 

Trên cơ sở các ý kiến, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiếp thu ý kiến hoàn thiện dự án luật, chỉnh lý nội dung để chính thức trình Quốc hội. Ủy ban Quốc phòng-An ninh tổ chức thẩm tra chính thức gửi ra Quốc hội trình theo đúng quy định.

Lê Sơn