Ngay khi bản dự thảo được công bố nhằm lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; nhiều tổ chức xã hội đã nghiên cứu và tổ chức hội thảo khoa học với các chuyên gia đầu ngành về năng lượng để tổng hợp ý kiến đóng góp vào bản dự thảo.

Trong thư kiến nghị gửi Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh, đại diện cho 25 thành viên là các tổ chức khoa học hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, sức khỏe, môi trường, truyền thông và giáo dục cộng đồng vì mục tiêu thúc đẩy phát triển năng lượng bền vững ở Việt Nam và khu vực Mekong, Liên minh năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) đã bày tỏ một số nhận định và ý kiến đề xuất dưới đây: 

Từ tâm huyết và trách nhiệm của các chuyên gia, nhóm nghiên cứu tham gia góp ý kiến dự thảo cho rằng, là bản quy hoạch năng lượng đầu tiên mang tính tổng thể và có tính định hướng cho các quy hoạch năng lượng thành phần như than, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo. Đây là nỗ lực rất đáng ghi nhận của cơ quan xây dựng quy hoạch; Bản dự thảo quy hoạch nàyđã khắc phục được nhiều tồn tại của các quy hoạch phân ngành trước đây. Không chỉ chú ý đến yếu tố phát triển năng lượng mà còn chú ý nhiều mặt khác như: yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu, giá cả, thị trường, tiết kiệm , hiệu quả, cũng như kết hợp các yếu tố trong, ngoài nước. Đặc biệt, quy hoạch tổng thể đã bám sát các định hướng, chính sách về năng lượng với các chỉ tiêu định hướng trung và dài hạn của Đảng và nhà nước trong Nghị quyết số 55 của Bộ chính trị về chiến lược phát triển năng lượng tái tạo đến 2050. 

Về phương pháp tính toán cân bằng năng lượng, giới phân tích cho rằng, các nhà hoạch định chính sách đã sử dụng phương pháp tính toán chung của các nước về quy hoạch tổng thể dựa trên đánh giá thực tại của quốc gia tại thời điểm quy hoạch; đã đánh giá đúng mức tiềm năng năng lượng sơ cấp của quốc gia, trên cơ sở đó tính toán được nhu cầu thực tế của mỗi phân ngành cụ thể trong từng giai đoạn cần tính toán để đưa ra giải pháp chi phí thấp nhất của hệ thống. Trong quy hoạch đã ứng dụng mô hình tối ưu, đưa ra so sánh 5 phương án cho mô hình tính toán chung của quy hoạch tổng thể và 11 phương án cho quy hoạch phân ngành điện. Vấn đề chủ yếu và quan trọng nhất là yếu tố đầu vào mô hình có đúng và chính xác không?. Điều này cần được phân tích và làm rõ thêm 

Trong phần đề xuất và kiến nghị, số đông các nhà khoa học và các chuyên gia trong ngành đã nhấn mạnh

 1. Quy hoạch vẫn dựa theo tư duy cổ điển với hệ thống năng lượng truyền thống, phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Trong khi, hệ thống năng lượng hiện đại ngày nay đã dựa vào các trụ cột : Giảm phát thải (Decarbonization); Phi tập trung (Decentralization); Chuyển đổi số (Digitalization) (3D) và Điện khí hóa (Electrification) (1E). Tư duy mới này cần được sử dụng làm kim chỉ nam xuyên suốt quy hoạch để nắm bắt kịp với xu thế thời đại. 

2. Tốc độ tăng trưởng GDP được sử dụng trong dự báo của Quy hoạch hiện chưa tính tới tác động của Covid 19. kiến nghị nêu ra là cần xem xét kỹ tác động trên để đảm bảo việc dự báo nhu cầu năng lượng bám sát thực tế có nhiều biến động, tránh nguy cơ dẫn tới lãng phí nguồn lực đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng chưa cần thiết. 

3. Giảm tối đa nhập khẩu năng lượng sơ cấp, đặc biệt là nhập khẩu than; thay vào đó cần khai thác tối đa nguồn năng lượng sơ cấp trong nước để hướng tới mục tiêu Việt Nam trở lại thành nước xuất khẩu năng lượng trong tương lai. 

Về nguồn tiềm năng khí nội địa, các nhà nghiên cứu thấy cần phải bổ sung thêm  tiềm năng của hai mỏ Kèn Bầu và Khánh Hòa vào nguồn cung năng lượng sơ cấp. 

Tiềm năng kỹ thuật của năng lượng tái tạo (NLTT) được xác định rất lớn, có thể mang lại lợi ích đa chiều về môi trường, kinh tế, xã hội, việc làm nhưng tỷ lệ sử dụng trong quy hoạch còn nhỏ. Ngoài phát điện, cần thúc đẩy ứng dụng NLTT vào các ngành công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, dân dụng. Riêng với khí sinh học, cần xác định mục tiêu phát triển cụ thể cho từng giai đoạn để khai thác nguồn tiềm năng này.

 4. Để tạo đột phá cho phát triển NLTT, quy hoạch cần bổ sung đánh giá tiềm năng và đưa vào sử dụng các dạng lưu trữ năng lượng. Pin lưu trữ, đặc biệt pin Li-ion và Hydrogen được sản xuất bằng điện tái tạo có thể làm thay đổi tỷ lệ các dạng năng lượng trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Nhiều quốc gia trong khu vực đã có chính sách phát triển kinh tế Hydro. Việt Nam cần nghiên cứu đánh giá tiềm năng của loại hình này để đón đầu xu thế. 

5. Dự thảo Quy hoạch xác định ngành than vẫn giữ vai trò quyết định trong phát triển năng lượng quốc gia  là vấn đề cần được cân nhắc vì trong thực tế tiềm năng khai thác than trong nước không còn nhiều và ngành than toàn cầu đang trong xu thế thoái trào. 

6. Về thị trường và giá năng lượng, Dự thảo mới chỉ đưa ra thị trường cho ngành điện. Điều cần là thị trường năng lượng đồng bộ giữa các ngành với thời điểm và lộ trình bắt buộc. Trên cơ sở có lộ trình về thị trường năng lượng, quy hoạch cần đề ra những chính sách và cơ chế cụ thể để triển khai. Tương tự, đối với giá năng lượng cũng cần phải đưa ra tính toán cụ thể cho từng giai đoạn để từ đó có phương án đảm bảo an sinh xã hội. Đây là yếu tố quyết định tính khả thi của quy hoạch.

 7. Về huy động vốn, các kênh huy động vốn đưa ra còn chung chung, thậm chí có những nguồn khả năng huy động được rất thấp. Nhu cầu vốn của quy hoạch cho từng năm rất lớn, do vậy cần có kịch bản huy động vốn đi kèm với biện pháp cụ thể cho từng giai đoạn để đảm bảo tính khả thi của quy hoạch. 

8. Sau cùng, Dự thảo quy hoạch mới chỉ ước tính chi phí đầu tư, chưa làm rõ được lợi ích kinh tế - xã hội của kịch bản lựa chọn; . bao gồm: lượng hóa bằng tiền lợi ích kinh tế, số việc làm mới tạo ra, yêu cầu và đánh giá về nguồn nhân lực, yêu cầu về chuỗi cung ứng  từ sản xuất, lắp đặt, vận hành đến bảo dưỡng,khai thác/cung cấp và dịch vụ tài chính-thị trường  

Nhận xét về dự thảo Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021- 2030, nguyên Phó viện trưởng Viện chiến lược Ngân hàng nhà nước Việt Nam Phạm Xuân Hòe cho rằng“Tư duy của lập Quy hoạch vẫn còn mang tính chất của ngành năng lượng truyền thống, chủ yếu vẫn là nhập khẩu than, rõ ràng là đã đi không đúng với xu hướng của thế giới. Nếu phải nhập khẩu than, hay khí đều cần đến ngoại tệ, mà dùng đến ngoại tệ có nghĩa là cân đối để đáp ứng cho nhu cầu sẽ trở nên vô cùng khó khăn. Vì thế chúng ta cần nhìn lại một cách tổng thể về huy động vốn cho việc phát triển năng lượng của Việt Nam nói chung.”

Đồng tình với nhận xét này, chuyên gia Ngô Đức Lâm, nguyên Phó viện trưởng Viện Năng lượng, Bộ Công Thương nhấn mạnh “Tư duy về vấn đề làm quy hoạch chưa có thay đổi lớn, còn dựa vào nguồn năng lượng truyền thống, dẫn đến phải nhập khẩu nhiên liệu, đặc biệt nhập khẩu than là rất cao. Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra là nhập than quá lớn. Năm 2020, nhập 12 triệu tấn, năm 2030 phải nhập tới 70 triệu tấn, đến năm 2050 và những năm sau, mỗi năm phải nhập thêm 100 triệu tấn. 

Nghị quyết NQ55 của Bộ Chính trị Đảng CSVN đã nhấn mạnh “ phải tận dụng tối đa nguồn nhiên liệu sẵn có trong nước…”.Chủ tịch Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) Ngụy Thị Khanh, cho rằng “Đây là Quy hoạch tổng thể của ngành năng lượng quốc gia cho tương lai, nên tư duy trong Quy hoạch cần đột phá để theo kịp với mô hình Năng lượng hiện đại: Giảm phát thải, phi tập trung, chuyển đổi số và điện khí hóa. Bên cạnh đó, Quy hoạch cũng cần định vị lại vị trí của ngành than: chọn tiếp tục phụ thuộc vào than đồng nghĩa với ô nhiễm hơn, tàn phá khí hậu; các kế hoạch phục hồi xanh hậu Covid không có chỗ cho than…”

Lê Thành Ý