6-1768964736.jpg
Đảng ta nhận định, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội rất rối ren của đất nước những năm 40 thế kỷ XX , Đảng cần phải có các tổ chức và đội ngũ cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hoá, văn nghệ để gây dựng và thúc đẩy phong trào văn hoá tiến bộ, văn hoá cứu quốc nhằm chống lại văn hóa phong kiến bảo thủ, lạc hậu...

Văn hóa còn thì Dân tộc còn

“Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất” do nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021, khẳng định văn hóa là hồn cốt, bản sắc, là cội nguồn sức mạnh và sự tồn tại của một dân tộc, thể hiện tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa để giữ vững bản sắc và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa.

Văn hóa là nguồn sức mạnh mềm, là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, giúp dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Nếu đánh mất văn hóa, dân tộc sẽ mất đi bản sắc, dễ bị hòa tan, phai nhạt và có nguy cơ biến mất ngay cả khi còn giữ được chủ quyền lãnh thổ. 

5-1768964788.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các văn nghệ sĩ và đại biểu tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc năm 2021

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc 2021, Nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo.

Theo Nguyên Tổng Bí thư, Việt Nam là một đất nước có hơn 4.000 năm lịch sử, trải qua không biết bao nhiêu sự biến đổi, thăng trầm do thiên nhiên và con người gây ra, đã tích luỹ, tạo ra và phát huy được nhiều giá trị, bản sắc văn hoá riêng của dân tộc, làm nên hồn cốt của Dân tộc; đồng thời tiếp thu và đóng góp vào nền văn hoá chung của nhân loại. Nhận thức sâu sắc được vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hoá trong sự phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, cho nên ngay từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phải phát triển văn hoá của dân tộc; và năm 1943, khi nước nhà còn chưa giành được độc lập, Đảng ta đã đề ra "Đề cương văn hoá Việt Nam", trong đó chỉ rõ "Mặt trận văn hoá là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hoá)", và chủ trương phát triển văn hoá theo ba hướng: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng.

Sau khi điểm lại những thành tựu nổi bật của Ngành văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng góp phần phát huy vai trò của văn hóa Việt Nam trong việc vừa kiến quốc vừa kháng chiến và bước vào thời kỳ đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững Đất nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định: "Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng vai trò của văn hoá và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hoá trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhận thức của Đảng về văn hoá ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Đảng ta xác định: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước; xác định phát triển văn hoá đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta. Nói sâu sắc, ngắn gọn như Bác Hồ là: "Văn hoá soi đường cho quốc dân đi"! Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Như nguyên Tổng Bí thư đã nói: Văn hóa còn thì dân tộc còn. Chính vì thế, khi chúng ta “đánh mất” những giá trị văn hóa truyền thống, đánh mất bản sắc của mình, thì chúng ta sẽ trở thành một “bản sao mờ” của văn hóa dân tộc khác".

Câu nói “Văn hóa còn thì dân tộc còn” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng như một lời nhắc nhở đầy thấm thía về sức mạnh vô hình nhưng vô cùng vĩ đại của văn hóa trong việc bảo vệ và duy trì bản sắc dân tộc. Văn hóa không chỉ là tập hợp những giá trị truyền thống, phong tục, tín ngưỡng mà còn là nền tảng để xây dựng ý thức cộng đồng và khẳng định sự tồn tại độc lập của một quốc gia. Chính trong những khả năng tiềm tàng của văn hóa, một dân tộc tìm thấy sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, gìn giữ phẩm giá và tiến bước trên con đường phát triển bền vững. Đầu tiên ta phải bàn đến tính giá trị của văn hóa. Giá trị là một thành tố của văn hóa, các giá trị này mang ý nghĩa định hướng cho các chuẩn mực xã hội. Chẳng hạn trong giá trị đạo đức truyền thống như “ uống nước nhớ nguồn” định hướng và dẫn dắt nền văn hóa Việt Nam theo hệ thống thứ bậc tầng vật - cũng tức là thế hệ sau tôn trọng và trân trọng công lao của thế hệ đi trước.

Câu nói của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh đến một điều cốt lõi: khi một dân tộc đánh mất nền tảng văn hóa của mình, thì không chỉ mất đi lịch sử và cội nguồn, mà còn mất cả khả năng tồn tại như một cộng đồng độc lập, có bản sắc và có vị thế riêng trên thế giới.

Đề cương văn hóa ra đời trước khi Đảng ta giành được chính quyền hơn hai năm - điều đó phản ánh sự nhạy bén chính trị, bắt nguồn từ thực trạng đất nước đang bị "một cổ ba tròng" của phong kiến, thực dân Pháp và phát-xít Nhật đua nhau thống trị và đàn áp nhân dân ta.

Sự phối hợp của các thế lực ngoại xâm không chỉ là việc tìm cách vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động đến tận xương tủy, mà đi theo đó là hàng loạt những thủ đoạn với dã tâm làm hủy hoại tinh thần của nhân dân ta, xóa bỏ các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, để chúng dễ bề ru ngủ, triệt tiêu ý thức phản kháng của nhân dân; trong khi đó, chúng ra sức đề cao văn hóa ngoại bang. Vì vậy, bản Đề cương là sự cảnh báo cần thiết và kịp thời đối với toàn dân tộc, bóc trần mối nguy hại của chính sách văn hóa phản động, như tuyên truyền, giới thiệu, phô trương văn hóa của thực dân và phát-xít, đề cao chủ nghĩa Đại Đông Á, mua chuộc nhà văn có tài, hăm dọa các nhà văn tiến bộ có tư tưởng cách mạng; xuất bản hàng loạt tài liệu nhồi sọ, thực hiện chính sách kiểm duyệt ngặt nghèo, tuyên truyền chủ nghĩa ái quốc mù quáng…

Trước hàng loạt nguy cơ đó, bản Đề cương chỉ rõ, muốn hoàn thành cách mạng chính trị, Đảng ta phải đồng thời lãnh đạo cách mạng văn hóa; cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể thực hiện thành công khi Đảng nắm lấy ngọn cờ văn hóa.

Nhiệm vụ cần kíp của những người cách mạng, nhất là những nhà văn hóa mác-xít là phải đề cao tinh thần chống phát-xít, thực dân, phong kiến câu kết nô dịch tinh thần, thực hiện chính sách ngu dân. Muốn vậy phải xây dựng văn hóa tân dân chủ, đấu tranh với những loại triết học Âu-Á tập trung đề cao vai trò giai cấp thống trị; phải đẩy mạnh tuyên truyền làm cho thuyết duy vật biện chứng và thuyết duy vật lịch sử chiến thắng.

Về văn nghệ, cần đề cao xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và làm giàu tiếng nói và chữ viết dân tộc…

Tất cả các hoạt động đó đều dựa trên ba nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng.

Đảng cũng nhấn mạnh, mặt trận chính trị và mặt trận văn hóa có vị trí quan trọng như nhau.

Có thể nói, những luận điểm cơ bản nêu trong Đề cương đã được thực thi khẩn trương ngay sau khi Đảng ta giành được chính quyền vào tháng 8/1945.

Sau ngày Tuyên ngôn Độc lập một ngày, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, thông qua sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó có ba nhiệm vụ liên quan văn hóa - đó là diệt giặc dốt; xóa bỏ tệ nạn thuốc phiện và thực hiện chính sách lương-giáo đoàn kết.

Tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta vừa được 10 tháng, thì ngày 24/11/1946, Bác Hồ đích thân chủ trì Hội nghị Văn hóa toàn quốc, khẳng định lại những luận điểm trong Đề cương Văn hóa và chỉ rõ những việc cần làm trước mắt với phương châm: "kháng chiến hóa văn hóa" và "văn hóa hóa kháng chiến".

Nhân cuộc Triển lãm hội họa 1951 tại chiến khu Việt Bắc, Bác gửi thư căn dặn: "Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy".

Sau này, nói chuyện với các nhà báo, Bác lại khẳng định: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén...".

Tròn 80 năm qua, những tư tưởng chỉ đạo cơ bản nêu trong Đề cương văn hóa năm 1943, vẫn giữ nguyên giá trị thời sự.

Sau Đại hội VI của Đảng vào năm 1986, chúng ta triển khai Cương lĩnh đổi mới đất nước được 12 năm, thì Đảng ta đề ra Nghị quyết "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc".

Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu trên, Đảng ta tiến hành tổng kết và ban hành Nghị quyết mới với tên gọi: "Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước".

"Văn hóa còn thì dân tộc còn" là lời nhắc nhở, là kim chỉ nam cho việc giữ gìn và phát huy văn hóa, xem đó là yếu tố sống còn để dân tộc Việt Nam vững bước phát triển và trường tồn. 

Mệnh đề “Văn hóa còn thì dân tộc còn” đã khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của văn hóa có ý nghĩa “sống còn” đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của một quốc gia, dân tộc.

7-1768964885.jpg
Đề cương Văn hóa Việt Nam 1943 nhấn mạnh nhiệm vụ cần kíp của những nhà văn hóa Mácxít là phải chống lại văn hóa phátxít, phong kiến, thoái bộ, nô dịch, ngu dân, phỉnh dân; phát huy văn hóa dân chủ, cải cách chữ quốc ngữ…

Những Cương lĩnh và Nghị quyết của Đảng nêu trên là sự cụ thể hóa và tiếp nối những quan điểm cơ bản của Đề cương Văn hóa năm 1943. Nền văn hóa Việt Nam đã huy động được sức mạnh toàn dân tộc, góp sức khơi thông tư tưởng và nhận thức nhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí quật cường, tinh thần dũng cảm vượt lên mọi hy sinh gian khó, tạo nên thắng lợi vang dội của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Thực hiện thật tốt những ý kiến chỉ đạo trên đây của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thật sự làm cho "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" (Lời Bác Hồ năm 1946), bảo đảm sự trường tồn của văn hóa song hành cùng sự trường tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam ta.

Văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực quan trọng, là hệ điều tiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng đất nước. Một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc sẽ góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. 

Văn hóa kết tinh những điều cao đẹp, nhân văn, nhân ái - là cội nguồn, sức mạnh mềm của dân tộc. Vì lẽ đó, “văn hóa còn, dân tộc còn”.

Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc

Trước hết, cần khẳng định rằng văn hóa là linh hồn của dân tộc. Nếu so sánh đất nước với một cơ thể sống, thì văn hóa chính là "DNA" – mã gien di truyền định hình nên bản sắc riêng biệt, không thể trộn lẫn với bất kỳ quốc gia nào.

Văn hóa không chỉ bao gồm những yếu tố vật thể như đình chùa, áo dài, bánh chưng, nhã nhạc cung đình… mà còn bao gồm cả những yếu tố phi vật thể như tiếng nói, tín ngưỡng, lối sống, cách nghĩ, đạo lý làm người. Những giá trị ấy chính là "hồn cốt" của dân tộc, là thứ gắn kết cộng đồng từ đời này sang đời khác, giúp dân tộc vượt qua muôn vàn thử thách lịch sử.

4-1768965019.jpg
Ngày 19/9/1954, tại Đền Giếng, một di tích trong quần thể di tích lịch sử văn hóa Đền Hùng, Bác Hồ đã có buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 (Đại đoàn quân Tiên phong) trên đường về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. (Ảnh: Đinh Đăng Định/TTXVN)

Lịch sử Việt Nam là minh chứng sống động cho tính đúng đắn của câu nói trên. Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, dân tộc ta không có chính quyền độc lập, nhưng văn hóa Việt vẫn tồn tại và lan tỏa mạnh mẽ. Chính lòng yêu nước, tiếng nói, tín ngưỡng, phong tục tập quán và tinh thần bất khuất được nuôi dưỡng qua các thế hệ đã giúp dân tộc giữ vững bản sắc, không bị đồng hóa. Các cuộc khởi nghĩa từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến Lý Bí, Ngô Quyền đều được thắp lửa từ ý chí văn hóa tự chủ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, “văn hóa kháng chiến” được tạo dựng từ tinh thần đoàn kết, niềm tin chính nghĩa, từ lời ca tiếng hát vang lên giữa rừng sâu, đồng ruộng, từ thơ ca, hội họa, báo chí đến cả câu tục ngữ khích lệ lòng yêu nước. Rõ ràng, khi văn hóa vẫn còn được duy trì, dân tộc vẫn có thể đứng vững dù không có chủ quyền toàn vẹn về chính trị.

Ngược lại, nếu văn hóa bị mai một hoặc bị xâm lăng, dân tộc sẽ dần đánh mất bản sắc, tự tách khỏi cội nguồn và rơi vào trạng thái lệ thuộc tinh thần. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia bị đô hộ, đồng hóa mạnh mẽ về văn hóa đã đánh mất tiếng nói bản địa, phong tục, lễ nghi, dần dần trở thành “bản sao” của kẻ xâm lăng và không còn giữ được tính độc lập trong căn tính dân tộc. Đây là điều mà Việt Nam – với lịch sử gìn giữ bản sắc mạnh mẽ – luôn cảnh giác.

Trong câu nói của cố nguyên Tổng Bí thư, từ “còn” và “mất” mang tính chất sinh – tử, cho thấy tầm quan trọng tuyệt đối của văn hóa. Nó không đơn thuần là "nên giữ" hay "không nên mất", mà là điều kiện sống còn – "còn hay mất" chính là sự tồn vong của một dân tộc. Bên cạnh đó, cách đặt văn hóa lên trước trong cấu trúc câu thể hiện sự đề cao yếu tố văn hóa như nền tảng gốc rễ, là điều kiện tiên quyết, trước cả chính trị, kinh tế hay quân sự. Bởi vì một dân tộc có thể chịu đựng nghèo đói tạm thời, có thể yếu về quân sự, nhưng nếu đánh mất văn hóa, thì sớm muộn cũng tan rã về bản sắc, không còn khả năng tồn tại như một thực thể độc lập.

22-1768838661.jpg
Văn hóa kết tinh những điều cao đẹp, nhân văn, nhân ái - là cội nguồn, sức mạnh mềm của dân tộc. Vì lẽ đó, “văn hóa còn, dân tộc còn”

Trong bối cảnh hiện đại, khi toàn cầu hóa, đô thị hóa, và công nghệ số phát triển chóng mặt, thì nguy cơ “mất văn hóa” càng trở nên hiện hữu hơn bao giờ hết. Giới trẻ Việt Nam ngày nay tiếp cận dễ dàng với văn hóa phương Tây, văn hóa Hàn – Nhật qua phim ảnh, âm nhạc, thời trang, mạng xã hội… Nhưng cũng chính vì thế mà sự sao chép, lai căng, sống ảo và thờ ơ với truyền thống dân tộc đang ngày càng phổ biến.

Lễ hội dân gian bị thương mại hóa, phong tục Tết bị giản lược, trò chơi dân gian dần biến mất, tiếng Việt bị pha tạp bởi các từ lóng, ngoại ngữ trộn lẫn. Nếu không kịp thời nhận diện và hành động, sự "đứt gãy văn hóa" sẽ âm thầm nhưng nguy hiểm hơn bất kỳ loại hình xâm lăng nào. Tuy nhiên, cũng không thể nhìn nhận vấn đề một cách bi quan hay cực đoan.

Trong chính bối cảnh hội nhập toàn cầu, văn hóa Việt vẫn có cơ hội lan tỏa nếu biết kế thừa, sáng tạo và truyền cảm hứng mới cho các giá trị truyền thống. Những chương trình nghệ thuật như “Táo Quân”, “Việt Nam trong tôi là…” hay việc các nghệ sĩ trẻ đưa dân ca vào nhạc điện tử, đưa hình ảnh áo dài, nón lá lên sàn diễn quốc tế… là minh chứng cho việc bảo tồn văn hóa có thể song hành với đổi mới. Điều cốt yếu là chúng ta cần một chiến lược quốc gia về văn hóa, kết hợp giáo dục – truyền thông – công nghiệp sáng tạo để nuôi dưỡng “cái gốc” văn hóa trong tâm thức từng người Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đồng thời, mỗi cá nhân cũng cần tự đặt ra câu hỏi: “Tôi đã làm gì để giữ gìn văn hóa dân tộc?”. Hành động nhỏ như nói tiếng Việt chuẩn, ăn Tết truyền thống, mặc áo dài trong dịp lễ, nghe dân ca, đọc văn học dân tộc… đều là những cách thiết thực để tiếp nối mạch nguồn văn hóa. Cũng như cây phải có rễ, sông phải có nguồn, con người không thể sống mà tách khỏi cội rễ tinh thần của mình.

“Giữ lấy hồn xưa giữa cuộc đời xô lệch,

Giữa đô thành đông đúc ánh đèn hoa,

Giữa âm thanh K-pop, trap và EDM rực cháy,

Vẫn lặng thầm câu hát mẹ ru ta.”

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã cho thấy, thời kỳ nào con người và văn hóa được coi trọng thì quốc gia hưng thịnh, toàn dân trên dưới đồng lòng, sẵn sàng đối đầu với mọi “sóng gió” và vượt qua mọi thử thách; ngược lại, khi văn hóa xuống cấp, bị coi nhẹ, con người không được đặt vào vị trí trung tâm của mọi quyết sách phát triển đất nước thì đất nước suy yếu, rơi vào cảnh lầm than.

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng vai trò của văn hoá và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hoá trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Ngay từ năm 1943, trước khi Đảng ta dẫn dắt dân tộc giành được độc lập, Đảng ta đã nhận ra tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển chung của dân tộc và cho ra đời Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 - Cương lĩnh đầu tiên của Đảng về văn hóa, chứa đựng những giá trị nổi bật, mang tính định hướng sâu sắc, là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong giai đoạn phát triển mới.

Vấn đề văn hóa từ đó luôn giữ vai trò cơ bản, quan trọng trong các quan điểm, văn kiện của Đảng. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” - Điều này nói lên bản chất đặc biệt quan trọng của văn hóa.

Tư tưởng này sau đó đã trở thành kim chỉ nam cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh thách thức mới, Đại hội XIII của Đảng xác định: Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước. Phát triển con người toàn diện và  xây dựng nền văn hóa việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là động lực cho phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là “nền tảng tinh thần”, “sức mạnh nội sinh”, “động lực phát triển”, và “soi đường cho quốc dân đi”; phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Như thế, chúng ta thấy rằng, phát triển văn hóa chính là xây dựng con người, và đồng thời là mục tiêu chính của sự phát triển đất nước.

Năm 2025, tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành văn hóa, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, văn hóa là sức mạnh mềm, là “năng lượng gốc” vô tận của dân tộc Việt Nam. Người đứng đầu Đảng khẳng định “văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc, định hình hệ giá trị quốc gia, bồi đắp hệ giá trị gia đình, hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới: yêu nước, nhân ái, đoàn kết, trung thực, trách nhiệm, sáng tạo, kỷ cương, khát vọng”.